Bạc

1. Khái quát chung về quặng bạc.
a. Khái quát chung:
Bạc, ký hiệu Ag, là nguyên tố hoá học có số thứ tự 47, thuộc nhóm I hệ tuần hoàn Mendeleev, khối lượng nguyên tử 107,868, hàm lượng trung bình trong vỏ trái đất
1.10-5% trọng lượng.
Ở điều kiện bình thường bạc không hoá hợp với oxy. Bạc dễ hoà tan trong axit nitoric và axit sulfuric nóng, đậm đặc. Cùng với các kim loại nặng khác, bạc tạo ra hợp kim. Bạc có thể dát được thành tấm cực mỏng.
Trong tự nhiên, bạc thường có mặt trong quặng đa kim, đồng, vàng ở trạng thái phân tán và được thu hồi khi khai thác, chế biến các loại quặng này.
Các khoáng vật chứa bạc gồm trên 50 khoáng vật, nhưng chỉ có một số khoáng vật có giá trị là: bạc tự sinh (90100% Ag), argentit Ag2S (87,1% Ag), discrasit Ag2Sb (72,884,3%Ag), keracgirit Agcl (75,2% Ag), stefanit 5Ag2S.Sb2S3 (65,4%Ag), polibasit 9Ag2S.Sb2S3(64,7% Ag), pyrargirit Ag3SbS3 (60% Ag), stromeierit (Ag, Cu)2S (51.3% Ag) và quặng đồng xám chứa bạc.
b. Lĩnh vực sử dụng
Bạc được dùng làm hợp kim đúc tiền, làm đồ trang sức, dụng cụ y học, làm thuốc sát trùng, đồ dùng gia đình, tranh sơn mài, trong nhiều chi tiết máy, công nghiệp, điện ảnh, sản xuất pin mặt trời,…
c. Các kiểu mỏ công nghiệp.
Các mỏ bạc thực thụ có giá trị công nghiệp là kiểu mỏ gồm các mạch và đới mạch quặng bạc ở trong các loại đá khác nhau có ở Mehicô. Hàm lượng bạc tối thiểu trong loại quặng này là 0,040,05 % Ag.
Hầu hết bạc thường đi kèm trong các mỏ quặng đa kim, đồng, vàng dưới dạng bạc tự sinh và trong các khoáng vật khác nhau như: vàng, các khoáng vật chứa đồng, chì, antimon,…
2.Khoáng sản bạc ở Việt Nam.
a. Khái quát về đặc điểm phân bố.
Ở Việt Nam chưa phát hiện được mỏ bạc thực thu, bạc thường đi kèm với các loại quặng khác: chì-kẽm, đồng, vàng, niken - coban,… vì vậy, sự phân bố của khoáng sản bạc gắn liền với sự phân bố các mỏ khoáng sản này.
b. Mức độ điều tra:
Do bạc là khoáng sản đi kèm trong các mỏ khoáng sản khác nên nó được đánh giá như một khoáng đi kèm với khoáng sản chính. Nhìn chung, đến nay việc đánh giá bạc mới chỉ được tiến hành ở một số mỏ chì - kẽm, antimon - vàng, vàng- bạc và vàng chứa bạc. Đặc biệt trong một số mỏ vàng - bạc, vàng chứa bạc đã tính trữ lượng bạc đến cấp C1. Căn cứ vào cấp tài nguyên , trữ lượng có thể phân ra các mức điều tra của khoáng sản bạc như sau:
- Thăm dò sơ bộ là các mỏ đã tính trữ lượng bạc tới cấp C1. Thuộc loại này bao gồm các mỏ vàng - bạc, vàng chứa bạc như Ngọc Hội (Tuyên Quang), Xà Khía (Quảng Bình), Tam Chinh, Đak Sa, Phước Hiệp (Quảng Nam). Nói chung, trữ lượng bạc ở cấp C1 có số lượng không đáng kể.
- Tìm kiếm, đánh giá: thuộc mức độ này bao gồm một vài mỏ , các mỏ đã tính được trữ lượng đến cấp C2 và đều thuộc các mỏ vàng - bạc và vàng chứa bạc như Trảng Sim (Nghệ An), Sông Hinh (Phú Yên). Trữ lượng bạc ở cấp này cũng không đáng kể.
Một số mỏ vàng - bạc, chì - kẽm và thiếc cũng có số lượng bạc khá lớn nhưng chỉ ở mức dự báo tài nguyên cấp P
C. Hiện trạng khai thác sử dụng
Việt Nam hiện nay chưa có công nghệ khai thác bạc, cùng với việc khai thác các loại quặng vàng, chì - kẽm, antimon,… thì một số lượng tài nguyên nhất định của bạc cũng được khai thác theo. Tuy nhiên, do hàm lượng bạc thấp, công nghệ tuyển lạc hậu nên việc thu hồi bạc từ những loại quặng nêu trên hầu như không thực hiện được.
d. Các loại hình quặng hoá bạc.
Đến nay, ở Việt Nam chưa phát hiện được tụ khoáng bạc thực thụ mà chỉ phát hiện bạc đi kèm trong các loại quặng khác. Có thể chia ra các kiểu quặng hoá chứa bạc sau:
- Quặng hoá chì - kẽm chứa bạc: phát hiện ở nhiều nơi, điển hình là các mỏ, điểm quặng chì - kẽm như Tú Lệ (Yên Bái), Na Sơn (Hà Giang), Tống Tinh ( Cao Bằng), Năng Khả, Phúc Ninh, Thành Các, Thượng Ấm (Tuyên Quang), Đèo Gió, Chợ Đồn ( Bắc Kạn), Quan Sơn (Thanh Hoá). Hàm lượng bạc trong quặng từ 10g/t đến vài trăm g/t, cá biệt 3660g/t (mỏ Tú Lệ).
- Quặng hoá vàng - bạc và vàng chứa bạc: phân bố rộng rãi trên lãnh thổ Việt Nam. Một số mỏ có hàm lượng bạc khá cao như Si Phay - Lai Châu (10-1050g/t, Ngọc Hội - Tuyên Quang (0-2492g/t), Xà Khía - Quảng Bình (123,5g/t), Phước Hiệp - Quang Nam (0-246,6g/t), An Trung - Gia Lai (0,7-250,3 g/t), … số mỏ còn lại, hàm lượng bạc thường thấp, trung bình khoảng 10g/t.
- Quặng hoá antimon chứa bạc: các mỏ, điểm quặng antimon chứa bạc ở Làng Vài, Khuôn Phục, Cóc Táy…(Tuyên Quang), Lương Ngoại, Làng Kiên, Na Sài, …(Thanh Hoá), Tấn Mài, Đồng Mỏ, Khe Chim, Dương Huy,…(Quảng Ninh), Mậu Duệ, Bản Lò, Bó Mới, …(Hà Giang), Đại Từ (Thái Nguyên),… thường có hàm lượng bạc thấp 10-30g/l.
- Quặng hoá thiếc chứa bạc: Thành hệ casiterit- silicat - sulfur chứa bạc chủ yếu gồm các mỏ, điểm quặng thiếc ở vùng Tam Đảo, Quỳ Hợp và Lâm Đồng. Hàm luợng bạc trong loại quặng này thấp (vài g/t đến dưới 100g/t).
- Quặng hoá đồng - Ni ken chứa bạc có ở vùng Sơn La, Quảng Ngãi, Thanh Hoá,… thường phân bố trong các trầm tích phun trào thành phần mafic.
e.Trữ lượng bạc
Trữ lượng, tài nguyên bạc đã được kết hợp dự báo trong một số báo cáo thăm dò, đánh giá khoáng sản chì - kẽm, vàng và một vài mỏ thiếc, antimon. Tuy nhiên, chủ yếu là ở mức độ tài nguyên dự báo. Theo kết quả tìm kiếm, thăm dò đến thời điểm hiện nay, trữ lượng và tài nguyên bạc ở Việt Nam đã xác định như sau:
- Trong các mỏ chì - kẽm: có 10 mỏ dự báo tài nguyên và trữ lượng vàng với tổng trữ lưượng và tài nguyên là 1880,162 tấn Ag, trong đó cấp C2=59,090 tấn (xem bảng). Tài nguyên bạc trong các mỏ chì - kẽm phân bố chủ yếu ở hai tỉnh Tuyên quang và Bắc Kạn.
- Trong các mỏ vàng - bạc, vàng chứa bạc: đã có 26 mỏ, điểm quặng tính trữ lượng và dự báo tài nguyên bạc ở các cấp khác nhau. Tổng trữ lượng và tài nguyên bạc trong các mỏ này đạt 345,634 tấn Ag, trong đó cấp C1=5,064 tấn, C2= 126,643tấn (xem bảng…). Trữ lượng và tài nguyên bạc tập trung chủ yếu ở mỏ vàng Ngọc Hội (Tuyên Quang).
- Trong các mỏ thiếc chứa bạc: chỉ có hai mỏ dự báo tài nguyên bạc với tổng tài nguyên là 4,899 tấn. Trong đó mỏ Làng Đông- Nghệ An là 2,448 tấn, mỏ Phu Loi là 2, 451 tấn.
- Trong các mỏ antimon chứa bạc: chỉ có mỏ Làng Vài - Tuyên Quang dự báo tài nguyên bạc đạt 0,843 tấn.
Như vậy, tổng trữ lượng và tài nguyên bạc đi kèm trong các mỏ đã dự báo được khoảng 2000 tấn, trong đó cấp C1 khoảng 5 tấn, cấp C2 khoảng 186 tấn, qua đó cho thấy tài nguyên bạc ở Việt Nam là không đáng kể
ST
Ngô Tấn Lợi @ 16:12 02/04/2012
Số lượt xem: 4418


Các ý kiến mới nhất