Thời gian

Cafe nhé !

Tra từ điển online


Tra theo từ điển:



Sắp xếp dữ liệu

Liên kết Website

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Gốc > Khoáng sản >

    Dầu mỏ

     

    Có nhiều lý thuyết giải thích việc nguyên nhân hình thành các mỏ dầu

    (1) Thuyết sinh vật học

    Theo lý thuyết này, nó được tạo thành từ các vật liệu còn sót lại sau quá trình phân rã xác các động vật và tảo biển nhỏ thời tiền sử (các cây cối trên mặt đất thường có khuynh hướng hình thành than). Qua hàng thiên niên kỷ vật chất hữu cơ này trộn với bùn, và bị chôn sâu dưới các lớp trầm tích dày. Kết quả làm tăng nhiệt và áp suất khiến cho những thành phần này bị biến hoá, đầu tiên thành một loại vật liệu kiểu sáp được gọi là "du mẫu chất" (kerogen), và sau đó thoái hóa thành "thán thủy hóa hợp vật" (hydrocarbon) ở trạng thái khí và lỏng. Bởi vì thán thủy hóa hợp vật có mật độ nhỏ hơn đá xung quanh, chúng xâm nhập lên phía trên thông qua các lớp đá ngay sát đó cho tới khi chúng bị rơi vào bẫy bên dưới những tảng đá không thể ngấm qua, bên trong những lỗ xốp đá gọi là bể chứa. Sự tập trung thán thủy hóa hợp vật bên trong một bẫy hình thành nên một giếng dầu, từ đó dầu lỏng có thể được khai thác bằng cách khoan và bơm.

    Các nhà địa chất cũng đề cập tới "cửa sổ dầu".. Đây là tầm nhiệt độ mà nếu thấp hơn thì dầu không thể hình thành, còn cao hơn thì lại hình thành khí tự nhiên. Dù nó tương thích với những độ sâu khác nhau ở những vị trí khác nhau trên thế giới, một độ sâu 'điển hình' cho cửa sổ dầu có thể là 4-6 km. Cần nhớ rằng dầu cũng có thể rơi vào các bẫy ở độ sâu thấp hơn, thậm chí nếu nó không được hình thành ở đó. Cần có ba điều kiện để hình thành nên bể dầu: có nhiều đá, mạch dẫn dầu xâm nhập, và một bẫy (kín) để tập trung thán thủy hóa hợp vật.

    Các phản ứng tạo thành dầu mở và khí tự nhiên thường như những phản ứng phân rã giai đoạn đầu, khi du mẫu chất phân rã thành dầu và khí tự nhiên thông qua nhiều phản ứng song song, và dầu cuối cùng phân rã thành khí tự nhiên thông qua một loạt phản ứng khác.

    (2) Thuyết vô cơ

    Cuối thế kỷ 19 nhà hóa học người Nga Đi-mi-tri I-va-nô-vích Men-đê-lê-ép đã đưa ra lý thuyết vô cơ giải thích sự hình thành của dầu mỏ. Theo lý thuyết này dầu mỏ phát sinh từ phản ứng hóa học giữa "thán hóa vật" (Carbure) kim loại với nước tại nhiệt độ cao ở sâu trong lòng trái đất tạo thành các thán thủy hóa hợp vật và sau đó bị đẩy lên trên. Các vi sinh vật sống trong lòng đất qua hàng tỷ năm đã chuyển chúng thành các hỗn hợp thán thủy hóa hợp vật khác nhau. Lý thuyết này là một đề tài gây nhiều tranh cãi trong giới khoa học, tạo thành trường phái Nga - U-crai-na trong việc giải thích nguồn gốc dầu mỏ.

    (3) Thuyết hạt nhân

    Lý thuyết thứ ba, được giải thích trong nguyệt san "Người Mỹ khoa học" (Scientific American) vào năm 2003, cho rằng các hợp chất thán thủy hóa hợp vật được tạo ra bởi những phản ứng hạt nhân trong lòng Trái Đất.

    ST 


    Nhắn tin cho tác giả
    Ngô Tấn Lợi @ 15:31 27/02/2012
    Số lượt xem: 580
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Logo liên kết !
    Thư viện của Ngô Tấn Lợi
    Bình Định FFC Diễn đàn Tây Sơn Đất võ Quy Nhơn Online